[Review] Đề cương và hướng dẫn tuyên truyền kỷ niệm 130 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh

0

Tải xuống bản phác thảo và hướng dẫn tuyên truyền để chúc mừng sinh nhật lần thứ 130 của Chủ tịch Hồ Chí Minh bởi Tuyengiao.vn, vì trang này không chia sẻ File từ, vì vậy tôi chia sẻ ở đây để dễ dàng tải xuống và giải nén:

Bài viết gốc: http://www.tuyengiao.vn/ban-can-biet/de-cuong-tuyen-truyen-ky-niem-130-nam-ngay-sinh-chu-tich-ho-chi-minh- 127320

I. TỔNG QUAN VỀ NƯỚC NGOÀI VÀ CHĂM SÓC CÁCH MẠNG CỦA HIỆN TẠI

1. Chủ tịch và tuổi thơ của Chủ tịch Hồ Chí Minh trước khi lên đường tìm cách cứu nước.

Chủ tịch Hồ Chí Minh (khi còn nhỏ, Nguyễn Sinh Cung, lớn lên học tập dưới tên Nguyễn Tất Thành, hoạt động cách mạng mang tên Nguyễn Ái Quốc) sinh ngày 19/5/1890 trong một gia đình nho yêu thương. nước, ở làng Hoàng Trù, xã Chung Cu, huyện Lâm Thịnh, nay thuộc xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. Bố anh là Nguyễn Sinh Sắc và mẹ anh là Hoàng Thị Loan.

Từ khi sinh ra đến 5 tuổi, Nguyễn Sinh Cung sống trong sự chăm sóc yêu thương của gia đình, đặc biệt là ông bà ngoại. Năm 1895, Nguyễn Sinh Cung theo gia đình đến sống ở Huế. Đầu năm 1901, sau khi mẹ qua đời, cha anh trở về Nghệ An, sau đó lấy tên là Nguyễn Tất Thành, tích cực học chữ Hán và theo cha đến một số nơi, học hỏi thêm nhiều điều. Năm 1906, Nguyễn Tất Thành theo cha sang Huế, lần đầu tiên anh học trường Pháp – Việt, sau khi học tại trường quốc gia Quốc Học Huế. Tháng 6 năm 1909, Nguyễn Tất Thành theo cha đến Bình Định, tháng 8 năm 1910 đến Phan Thiết, Bình Thuận trở thành giáo viên tại trường Đức Thành. Tháng 2, 1111, Nguyễn Tất Thành vào Sài Gòn.

2. Quy trình hoạt động mang tính cách mạng

2.1. Giai đoạn1911 – 1920

Sinh ra và lớn lên trong một gia đình nho yêu nước, trong một ngôi làng giàu truyền thống lịch sử, văn hóa và cách mạng; Chứng kiến ​​sự mất mát của đất nước, ông sớm hun đúc ý chí và khát khao cháy bỏng để giành độc lập và tự do cho nhân dân và đất nước. Vào ngày 5 tháng 6 năm 1911, dưới tên mới là Văn Ba, ông lên tàu Amiran Latusơrêvin, rời bến cảng Rong Rong và đến Marx để xây dựng (Pháp).

Từ 1912 đến 1917, Nguyễn Tất Thành đi qua một số nước châu Phi và châu Mỹ. Vào giữa năm 1913, anh đến Anh để tham gia nhiều hoạt động. Cuối năm 1917, ông trở về Pháp.

Đầu năm 1919, Nguyễn Tất Thành gia nhập Đảng Xã hội Pháp, vào tháng 6 năm 1919, thay mặt Hiệp hội Yêu nước Việt Nam tại Pháp, đã gửi một yêu sách 08 điểm (ký tên Nguyễn Ái Quốc) đến Hội nghị các nước Hoàng gia. Gặp gỡ tại Campuchia (Pháp), yêu cầu chính phủ các nước gặp gỡ chấp nhận các quyền tự do, dân chủ và bình đẳng của người dân Việt Nam.

Vào tháng 7 năm 1920, Nguyễn Ái Quốc đọc luận án của Lenin về các vấn đề dân tộc và thuộc địa.

Tháng 12 năm 1920, Nguyễn Ái Quốc tham gia Đại hội Đảng Xã hội Pháp. Tại đây, ông đã bỏ phiếu cho Quốc tế III và tham gia thành lập Đảng Cộng sản Pháp, trở thành Cộng sản đầu tiên tại Việt Nam.

2.2. Giai đoạn 1921 – 1930

Từ năm 1921 đến tháng 6 năm 1923, Nguyễn Ái Quốc đã tham gia nhiều hoạt động: thành lập Liên minh các dân tộc thuộc địa, tham dự Đại hội lần thứ nhất và lần thứ hai của Đảng Cộng sản Pháp, sống trong Câu lạc bộ. Bộ Phôbua, Chủ tịch và Biên tập viên của tờ báo …

Vào ngày 13 tháng 6 năm 1923, ông rời Pháp để đến Đức và đến thành phố Bluepeterecua (Liên Xô) vào ngày 30 tháng 6 năm 1923.

Từ tháng 7 năm 1923 đến tháng 10 năm 1924, Nguyễn Ái Quốc đã hoạt động trong phong trào cộng sản quốc tế, bổ sung và phát triển lý thuyết về cách mạng thuộc địa. Những người làm việc trong Nông dân quốc tế; tham dự Đại hội quốc tế II của Hội đỏ, Đại hội thanh niên quốc tế; tiếp tục viết nhiều sách và tuyên truyền cho cách mạng, hoàn thành bản án của chế độ thực dân Pháp; học tại Đại học Đông; tham gia Đại hội Cộng sản toàn quốc lần thứ 5 và được chỉ định là quan chức Ủy ban Đông phương của Đảng Cộng sản.

Tháng 11 năm 1924, Nguyễn Ái Quốc rời Liên Xô và trở về Quảng Châu (Trung Quốc). Tháng 6 năm 1925, người sáng lập Hội Cách mạng Thanh niên Việt Nam, trực tiếp mở lớp đào tạo cán bộ, xuất bản Báo Thanh niên (1925), tờ báo cách mạng đầu tiên của Việt Nam để truyền bá chủ nghĩa Mác – Lênin về Việt Nam, chuẩn bị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Các bài giảng của Nguyễn Ái Quốc đã được thu thập và in thành Dương Cách Mạng, được xuất bản năm 1927.

Mùa hè năm 1927, Nguyễn Ái Quốc rời Trung Quốc sang Liên Xô, sau đó sang Đức (tháng 11 năm 1927) và bí mật sang Pháp, sang Bỉ để tham dự cuộc họp của Đại hội đồng Đại hội chống đế quốc (tháng 12 năm 1927). ), sau đó quay lại Đức, sang Thụy Sĩ, sang Ý. Tháng 7 năm 1928, Nguyễn Ái Quốc đến Xiêm (Thái Lan), sau đó trở về Trung Quốc vào cuối năm 1929.

Từ ngày 6 tháng 1 đến ngày 7 tháng 2 năm 1930 tại Cửu Long (Hương Cang, Trung Quốc), Nguyễn Ái Quốc đã chủ trì Hội nghị đoàn kết các tổ chức cộng sản và thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam.

2.3. Giai đoạn 1930 – 1945

Từ năm 1930 đến năm 1941, mặc dù hoạt động ở nước ngoài, Nguyễn Ái Quốc vẫn chỉ đạo chặt chẽ phong trào cách mạng trong nước. Vào tháng 6 năm 1931, ông bị chính quyền Anh bắt giam tại Hồng Kông. Cuối năm 1932, ông được thả ra, sau đó sang Liên Xô học tại trường quốc tế Lenin.

Tháng 10 năm 1938, ông rời Liên Xô để đến Điện An (Trung Quốc) làm việc tại Bộ chỉ huy Bát lộ, sau đó Start liên lạc với tổ chức Đảng, chuẩn bị trở về quê hương để chỉ đạo cách mạng Việt Nam.

Ngày 28 tháng 1 năm 1941, sau hơn 30 năm xa quê hương, Nguyễn Ái Quốc trở về nước (tại cột mốc 108 thuộc xã Trương Hà, Hà Quang, Cao Bằng).

Từ ngày 10 tháng 5 đến ngày 19 tháng 5 năm 1941, Nguyễn Ái Quốc đã chủ trì Hội nghị lần thứ VIII của Đảng Cộng sản Trung ương Đông Dương tại Khuoi Nam (Pac Bo, Cao Bằng). Hội nghị xác định con đường đấu tranh giải phóng dân tộc, chỉ đạo thành lập Mặt trận Việt Minh, thành lập Báo Độc lập Việt Nam, tổ chức lực lượng vũ trang giải phóng và xây dựng căn cứ cách mạng.

Tháng 8 năm 1942, tên là Hồ Chí Minh, đại diện của Mặt trận Việt Minh và Ban Việt Nam của Hiệp hội Quốc tế Chống xâm lược đã đến Trung Quốc để liên lạc với Đồng minh, để phối hợp hành động chống lạm phát. phát xít trên chiến trường Thái Bình Dương. Người dân đã bị chính quyền địa phương của Tưởng Giới Thạch bắt giữ tại các trại lao động của tỉnh Quảng Tây (Trung Quốc). Trong thời gian bị giam giữ, anh ta đã viết Nhật ký trong tù. Vào tháng 9 năm 1943, ông được thả ra.

Tháng 9 năm 1944, Hồ Chí Minh trở về căn cứ Cao Bằng. Tháng 12 năm 1944, Hồ Chí Minh chỉ thị thành lập Quân đội Việt Nam để tuyên truyền và giải phóng quân đội và tiền thân của Quân đội Nhân dân Việt Nam.

Tháng 5/1945, Hồ Chí Minh trở về từ Cao Bằng đến Tân Trao (Tuyên Quang). Tại đây theo yêu cầu của ông, Hội nghị toàn quốc của Đảng và Quốc hội đã tổ chức một cuộc họp để quyết định cuộc tổng khởi nghĩa. Đại hội toàn quốc đã bầu ra Ủy ban giải phóng dân tộc Việt Nam (tức là Chính phủ lâm thời) do Hồ Chí Minh đứng đầu.

Tháng 8 năm 1945, Hồ Chí Minh và Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã lãnh đạo nhân dân nổi dậy để giành chính quyền.

Ngày 2/9/1945 tại Quảng trường Ba Đình, Hà Nội, Độc giả của Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh ra nước Cộng hòa Dân chủ Việt Nam (nay là Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam).

2.4. Giai đoạn 1945 – 1954

Trong những năm 1945 – 1946, ông và Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã lãnh đạo nhân dân xây dựng và bảo vệ chính quyền cách mạng non trẻ, đối phó với kẻ thù trong và ngoài nước, và đưa cách mạng Việt Nam vượt qua tình trạng “hàng ngàn sợi treo”. tóc “; tổ chức cuộc Tổng tuyển cử quốc gia, bầu Quốc hội và thông qua Hiến pháp dân chủ đầu tiên của Việt Nam. Quốc hội đầu tiên (1946) đã bầu ông làm Chủ tịch nước Cộng hòa Dân chủ Việt Nam.

Ngày 2 tháng 3 năm 1946, Chính phủ Liên minh Kháng chiến được thành lập bởi Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Ngày 3 tháng 11 năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh được Quốc hội giao nhiệm vụ thành lập Chính phủ mới bởi Tổng thống và Thủ tướng (từ tháng 11 năm 1946 đến tháng 9 năm 1955) và Bộ. Bộ Trưởng Bộ Ngoại Giao.

Đại hội lần thứ hai của Đảng (1951), ông được bầu làm Chủ tịch Trung ương Đảng Lao động Việt Nam. Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân Việt Nam đã có một chiến thắng vẻ vang trong cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Pháp, đỉnh cao là chiến thắng Điện Biên Phủ lừng lẫy năm 1954, rung chuyển, đưa miền Bắc lên để xây dựng chủ nghĩa xã hội .

2.5. Giai đoạn 1954 – 1969

Sau chiến thắng của Điện Biên Phủ và Hiệp định Geneva được ký kết. Người Pháp rút về nước và miền Bắc hoàn toàn được giải phóng. Theo Hiệp định Genève, sau 2 năm sẽ tổ chức Tổng tuyển cử Việt Nam. Nhưng đế quốc Mỹ, với ý định xâm lược Việt Nam từ lâu, đã tận dụng cơ hội, đẩy Pháp ra, nhảy vào tổ chức, chỉ huy quân ngụy, lính ngụy, viện trợ kinh tế quân sự, và biến miền Nam thành kiểu mới. thuộc địa, sự tách biệt lâu dài của chúng tôi. Cả dân tộc chúng ta đã bước vào một cuộc chiến mới chống lại sự xâm lược. Trong bối cảnh đó, Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục lãnh đạo nhân dân cùng lúc thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược: Cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và Cách mạng dân chủ nhân dân ở miền Bắc. Ở miền Nam, giải phóng miền Nam và thống nhất đất nước.

>>> Xem thêm :  [Review] Trên tay iPhone 11 Pro Max Midnight Green : Tưởng không đẹp lại đẹp không tưởng !

Tháng 10 năm 1956, tại Đại hội Trung ương Đảng lần thứ X (Kỳ II), Chủ tịch Hồ Chí Minh được bổ nhiệm làm Chủ tịch Đảng.

Tại Đại hội Đảng lần thứ ba (1960), ông được bầu lại làm Chủ tịch Trung ương Đảng Lao động Việt Nam. Quốc hội thứ hai, thứ 3 đã bầu ông làm Chủ tịch nước Cộng hòa Dân chủ Việt Nam, nay là Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam.

Cùng với Trung ương Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vạch ra con đường đúng đắn, lãnh đạo cuộc kháng chiến chống Mỹ để cứu nước và đổi mới và xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc; đặt nền tảng và không ngừng nuôi dưỡng tình hữu nghị giữa dân tộc Việt Nam và các dân tộc trên thế giới, giữa Đảng Công nhân Việt Nam (nay là Đảng Cộng sản Việt Nam) và Đảng Cộng sản và phong trào công nhân quốc tế.

Vào ngày 2 tháng 9 năm 1969, Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời là một mất mát lớn. Đồng bào và chiến sĩ của chúng tôi ở đất nước chúng tôi rất nhớ ông. Sự ra đi của ông để lại rất nhiều tình yêu cho toàn Đảng, toàn thể đất nước Việt Nam và tình đoàn kết thân thiện với những người tiến bộ trên thế giới.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dành cả cuộc đời của mình cho sự nghiệp cách mạng của Đảng ta, nhân dân ta, nhân dân ta và vì hòa bình và tiến bộ xã hội trên thế giới. Ông đã sống một cuộc đời vinh quang, đầy gian khổ và hy sinh, vô cùng cao quý và giàu có, vô cùng trong sáng và đẹp đẽ. Cuộc đời vĩ đại và sự nghiệp cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn là tấm gương sáng cho tầng lớp thế hệ Việt Nam học hỏi và làm theo.

Tên tuổi và sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh sẽ mãi mãi ở cùng đất nước, mãi mãi sống trong trái tim của chúng ta.

II. HIỆN TẠI HỒ CHÍ MINH – HUYỀN THOẠI DÀNH CHO NGƯỜI DÂN TỘC, NGƯỜI LÃNH ĐẠO CẠNH TRANH CỦA BÊN VÀ NHÂN DÂN, NHÀ VĂN HÓA TUYỆT VỜI CỦA VIỆT NAM, CHIẾN LƯỢC PHONG CÁCH CỘNG ĐỒNG QUỐC TẾ VÀ CÔNG NHÂN QUỐC TẾ

1. Chủ tịch Hồ Chí Minh – Anh hùng giải phóng dân tộc

Chủ tịch Hồ Chí Minh sinh ra và lớn lên trong một thời kỳ hỗn loạn của lịch sử đất nước. Nhiều cuộc nổi dậy, các cuộc đấu tranh anh hùng và bất khuất cho độc lập dân tộc và đoàn kết dân tộc đã lần lượt thất bại, phong trào của đất nước chúng ta để cứu đất nước phải đối mặt với một cuộc khủng hoảng sâu sắc. Với mong muốn cháy bỏng để giành độc lập và tự do cho người dân và đất nước, ông đã đi qua bốn lục địa của bốn biển, làm việc, nghiên cứu, quan sát, nghiên cứu lý thuyết và kinh nghiệm về các cuộc cách mạng cổ điển. Trên thế giới, ông hiểu nguyên nhân sâu xa của sự đau khổ của nhân dân lao động là sự áp bức và bóc lột chủ nghĩa tư bản đế quốc và sự hình thành ý thức rõ ràng về giai cấp. Ông đến với chủ nghĩa Mác – Lênin, tiếp thu thế giới quan, Cách cách mạng khoa học của chủ nghĩa Mác – Lênin; bởi thiên tài trí tuệ, nhận thức đầy đủ về xu hướng phát triển tất yếu của nhân loại và bản chất mới của thời đại mở ra từ Cách mạng Tháng Mười Nga, ông tìm thấy ở đó những điều cơ bản của con đường giải phóng. người gắn liền với giải phóng giai cấp và giải phóng con người; Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.

Với việc thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam do Người sáng lập thành lập năm 1930, cùng với nền tảng chính trị đầu tiên của Đảng, con đường cách mạng Việt Nam về cơ bản đã được hình thành, cách thức đúng đắn để cứu nước Việt Nam. về cơ bản đã được xác định. Điều này không chỉ xóa tan bế tắc trong cách giải phóng dân tộc, mà còn giải quyết chính xác, sáng tạo và lãnh đạo thực hiện thành công các vấn đề then chốt của cách mạng Việt Nam.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, đứng đầu là lãnh đạo Hồ Chí Minh, nhân dân Việt Nam đã hợp nhất thành một nhóm, phát huy hết sức mạnh của cả dân tộc, làm nên thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, lật đổ. chế độ thực dân, phong kiến, thành lập Việt Nam Dân chủ Cộng hòa – nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á. Trong Tuyên ngôn độc lập ngày 2/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã long trọng tuyên bố với nhân dân, đồng bào và toàn thế giới: “Việt Nam có quyền tự do, độc lập và chân lý. Vào một quốc gia độc lập và tự do.

Ngay sau khi giành được độc lập, chính quyền cách mạng non trẻ của chúng ta phải đối mặt với một tình huống rất khó khăn, Chủ tịch Hồ Chí Minh và toàn Đảng đã khôn ngoan vạch ra con đường đúng đắn và chèo lái con thuyền cách mạng đi qua. ghềnh, bảo vệ Đảng và duy trì chính quyền cách mạng. Trên cơ sở các chiến lược kháng chiến “toàn dân”, “toàn diện” và “lâu dài”, dựa trên sức mạnh của chính họ, phát huy truyền thống đoàn kết và lòng yêu nước của cả dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đã lãnh đạo người ta lần lượt đánh bại mọi âm mưu và âm mưu xâm lược của kẻ thù, đặc biệt là chiến thắng trong Chiến tranh Mùa đông-Xuân 1953-1954 với đỉnh cao là “Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ” nổi tiếng. năm châu, rung chuyển trái đất, “buộc người Pháp phải ký Hiệp định Genève (năm 1954), chấm dứt chiến tranh xâm lược Việt Nam.

Theo tinh thần “tốt hơn là hy sinh tất cả mọi thứ nhưng nhất định không để mất đất nước, từ chối làm nô lệ”, “không có gì quý hơn độc lập và tự do”; hoàn thành ý chí thiêng liêng của mình; Trên cơ sở cách thức đúng đắn và sáng tạo của Đảng, với sức mạnh tổng hợp của cả dân tộc kết hợp với sức mạnh của thời đại, quân đội và nhân dân ta đã lần lượt đánh bại các chiến lược chiến tranh đế quốc của Mỹ, giải quyết hoàn toàn miền Nam giải phóng, thu giang con trai đến một nhiệm kỳ, hoàn thành sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ miền Bắc, đưa đất nước lên chủ nghĩa xã hội.

Đi theo con đường cách mạng do Chủ tịch Hồ Chí Minh vạch ra; Dù trong hoàn cảnh nào, Đảng ta luôn nhất quán với mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, áp dụng phát triển và sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, Hồ Chí Minh tư duy, không ngừng nâng cao uy tín. tín dụng, lãnh đạo và sức mạnh chiến đấu để thực hiện thành công đổi mới đất nước và hội nhập quốc tế. Những thành tựu to lớn và ý nghĩa của đất nước sau gần 35 năm đổi mới và hội nhập quốc tế là những ví dụ sinh động về sự lãnh đạo đúng đắn và khôn ngoan của Đảng; khẳng định tính đúng đắn của con đường cách mạng Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh vạch ra; và chính trong quá trình vận động cách mạng, tư tưởng, dòng đó ngày càng được bổ sung, phát triển và hoàn thiện, trở thành ngọn đuốc dẫn đường cho cách mạng Việt Nam từ thắng lợi này sang chiến thắng khác.

2. Chủ tịch Hồ Chí Minh – Nhà lãnh đạo thiên tài của Đảng và nhân dân ta, Ông là một tấm gương mẫu mực về đạo đức cách mạng, hết lòng, hết lòng và hy sinh vì sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân

Chủ tịch Hồ Chí Minh thành lập, lãnh đạo và huấn luyện Đảng Cộng sản Việt Nam, xây dựng Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, xây dựng Mặt trận Thống nhất Quốc gia Việt Nam, tổ chức và huấn luyện lực lượng vũ trang. Trang người Việt, Ngài đặt nền móng cho quan hệ với các dân tộc trên thế giới. Ông đã làm việc với Đảng Cộng sản Việt Nam để áp dụng và phát triển các sáng tạo của chủ nghĩa Mác – Lênin vào các điều kiện cụ thể của nước ta. Chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đã trở thành nền tảng cho hệ tư tưởng của Đảng, mở đường cho sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân Việt Nam đạt được thành công lớn hơn. Đất nước ta đã thay đổi từ một nước phong kiến, nghèo, lạc hậu sang một nước đang phát triển với thu nhập trung bình; văn hóa và xã hội tiếp tục phát triển, đời sống vật chất và tinh thần của con người không ngừng được cải thiện; Công tác xây dựng đảng và hệ thống chính trị đã dần được cải thiện; khối đoàn kết vĩ đại của cả dân tộc được củng cố; ổn định chính trị, quốc phòng – an ninh, độc lập, chủ quyền được duy trì; Vị thế và uy tín của đất nước ngày càng được nâng cao trên trường quốc tế. Cũng giống như đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch Nguyễn Phú Trọng nói: “Nước ta chưa bao giờ có cơ hội, tiềm năng, vị trí và uy tín như ngày nay”.

Đất nước phát triển, người dân có một cuộc sống ngày càng thịnh vượng và hạnh phúc, điều đó đã chứng minh rằng tư tưởng, sự nghiệp, đạo đức và phong cách của Hồ Chí Minh là một tài sản vô giá và là ngọn đuốc soi đường. cho đất nước chúng ta vững chắc đến tương lai. Là người lãnh đạo thiên tài của Đảng và nhân dân ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh không bao giờ coi mình là người trên, không để ai tôn sùng cá tính của mình, chỉ có tâm hồn là một người hầu trung thành và tận tụy của nhân dân “, như một người lính chấp hành mệnh lệnh quốc gia ra mặt trận “. Ở anh sự vĩ đại và vĩ đại được thể hiện qua những điều rất bình thường và đơn giản. Nó không chỉ là một biểu hiện của đạo đức và lối sống, mà còn là một phong cách phổ biến, tôn trọng và phổ biến cho người dân. Sự giản dị của Hồ Chí Minh đã trở thành một biểu tượng của giá trị văn hóa, nhưng nó rất gần gũi với cuộc sống của người dân, khiến mọi người có thể nghiên cứu và làm theo.

>>> Xem thêm :  [Review] Mách bạn kinh nghiệm mua xe máy cũ

Cuộc đời của ông là một biểu tượng cao quý của tinh thần cách mạng kiên cường, tinh thần độc lập, yêu nước, yêu thương nhân dân một cách nghiêm túc, cần thiết, đạm bạc, chính trực, công bằng và vô tư của công lý. Phòng khiêm tốn, giản dị. Ngài để lại cho chúng ta một trái tim nhân hậu, một tình yêu tràn đầy tình yêu, vì đất nước, vì nhân dân, vì Đảng; một trí tuệ thông minh, khéo léo; một tầm nhìn rộng và sâu; Một mô hình tuyệt vời về cách sống, suy nghĩ, viết, nói, làm việc.

3. Chủ tịch Hồ Chí Minh – nhà văn hóa nổi bật của Việt Nam

Sự nghiệp văn hóa lớn nhất và quan trọng nhất của Chủ tịch Hồ Chí Minh là tìm ra con đường đúng đắn để cứu nước và lãnh đạo thành công sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc, độc lập và tự do cho đất nước và hạnh phúc. cho người dân. Sự nghiệp giải phóng dân tộc do Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo đã mang lại một vị thế xứng đáng cho văn hóa dân tộc Việt Nam. Không chỉ vậy, sự nghiệp này còn có ý nghĩa to lớn đối với văn hóa thế giới, cho người dân các nước thuộc địa biết cách đứng lên và phá vỡ sự trói buộc của xiềng xích, giành độc lập và tự do cho vùng đất. và do đó góp phần xóa bỏ chế độ thực dân trên thế giới.

Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ góp phần tạo ra một chế độ mới, một kỷ nguyên mới mà còn tạo ra một nền văn hóa mới trong lịch sử phát triển của đất nước Việt Nam, góp phần rất lớn vào sự phát triển chung của Việt Nam. văn hóa con người.

Trong những năm hoạt động cách mạng, Hồ Chí Minh tiếp thu có chọn lọc văn hóa dân tộc và tinh hoa văn hóa nhân loại, nhất là những nguyên tắc cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin phát triển thành những giá trị văn hóa mới – văn hóa Hồ Chí Minh. Tư tưởng về văn hóa của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thấm nhuần đời sống xã hội. Mọi người luôn nhận ra tầm quan trọng đặc biệt và vị trí của văn hóa. Ông chỉ ra: “Văn hóa phản ánh quốc gia”. Cốt lõi của tư tưởng văn hóa Hồ Chí Minh là tinh thần yêu nước, yêu dân, yêu dân, hết lòng phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Ông đề cao các lý tưởng cứu nước và cứu dân, “Dân tộc là trên hết”, “Dân đầu tiên”, “Không gì quý hơn độc lập và tự do”.

Với những đóng góp nổi bật cho người dân Việt Nam và nhân loại tiến bộ trên thế giới, năm 1987, Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hợp Quốc (UNESCO) đã ban hành Nghị quyết 24C / 1865 nhân dịp kỷ niệm. Sinh nhật lần thứ 100 của Chủ tịch Hồ Chí Minh (1990) vinh danh ông là Anh hùng giải phóng dân tộc và Nhà văn hóa xuất sắc của Việt Nam. Đây là một vinh dự và niềm tự hào lớn của Đảng và Nhân dân ta.

4. Chủ tịch Hồ Chí Minh, người lính nổi bật của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế

Chủ tịch Hồ Chí Minh là biểu tượng cao cả của chủ nghĩa yêu nước chân chính kết hợp nhuần nhuyễn với chủ nghĩa quốc tế vô sản. Từ khi đến với chủ nghĩa Mác – Lênin, ánh sáng chân lý của thời đại, trái tim anh luôn hướng về nhân dân bị áp bức, chiến đấu không mệt mỏi vì hòa bình, độc lập, tự do, hạnh phúc. Ông hết lòng và hết lòng xây dựng tình đoàn kết nhất trí giữa anh em Đảng Cộng sản dựa trên chủ nghĩa Mác – Lênin và chủ nghĩa quốc tế vô sản thuần túy, không ngừng vun đắp mối quan hệ thân thiện, gần gũi. giữa các dân tộc Đông Dương, các nước láng giềng. Ông đã có những đóng góp nổi bật cho lý thuyết cách mạng để giải phóng nhân dân thực dân dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác – Lênin: Đạt được độc lập để tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội. Ông đã tìm ra giải pháp cho cuộc đấu tranh giải phóng loài người. Đóng góp lớn nhất của thời đại Hồ Chí Minh là từ việc xác định đúng cách để cứu dân tộc cho dân tộc đến xác định một con đường, một hướng đi và một Cách để thức tỉnh hàng trăm triệu người bị áp bức. hội họa ở các thuộc địa lạc hậu.

Hồ Chí Minh đã giải quyết chính xác vấn đề “làm thế nào để giải quyết các dân tộc thuộc địa”. Hồ Chí Minh đã làm việc không mệt mỏi để liên kết cách mạng Việt Nam với cách mạng thế giới. Ông làm sống lại những giá trị tinh hoa của dân tộc Việt Nam. Sự nghiệp cứu nước của ông đã xóa bỏ mọi sự sỉ nhục nô lệ trên vai nhân dân ta. Trong gần một thế kỷ, lần đầu tiên trong lịch sử, dưới sự tổ chức và đào tạo của Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo nhân dân ta xóa bỏ mọi hình thức áp bức. , khai thác và xây dựng chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn quốc. Những chiến thắng trong sự nghiệp cách mạng của người Việt dưới sự lãnh đạo của Lãnh tụ Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam đã khuyến khích các dân tộc bị áp bức và bóc lột trên thế giới đấu tranh cho sự nghiệp cao quý: Hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ của loài người. Do đó, không chỉ người dân Việt Nam yêu mến Chủ tịch Hồ Chí Minh, mà nhân dân và bạn bè trên thế giới cũng yêu mến ông, mang đến cho ông những cảm xúc trân trọng và tốt đẹp nhất. Bạn bè ngưỡng mộ và coi Hồ Chí Minh là “Lãnh đạo thế giới thứ ba“,” …Cuộc chiến của ông sẽ là kim chỉ nam cho tất cả các dân tộc đang đấu tranh, cho những người trẻ tuổi và các nhà lãnh đạo trên khắp thế giới.Mùi (Bumadien, nguyên Chủ tịch Hội đồng Cách mạng, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Cộng hòa Dân chủ và Nhân dân Algeria); “Cuộc đời của Chủ tịch Hồ Chí Minh là nguồn động viên cho tất cả những người lính đấu tranh cho tự do” (trích lời của Chủ tịch Hội đồng Lãnh đạo của Hội đồng Giải phóng Nhân dân Agola Latin America); “Tên của đồng chí Hồ Chí Minh sẽ mãi mãi gắn liền với những hành động cao nhất và những giấc mơ cao quý nhất của nhân loại” (trích từ Ủy ban Quốc gia của Đảng Cộng sản Hoa Kỳ).

III. TÌM HIỂU VÀ SAU KHI NGHE, ĐẠO ĐỨC, PHONG CÁCH HIỆN TẠI HỒ CHÍ MINH

1. Tư tưởng, đạo đức và phong cách của Hồ Chí Minh

Một phần của chúng tôi, một phần của nhau, một phần của chúng tôi, một phần của nhau.

1.1. Tư tưởng Hồ Chí Minh

– Tư tưởng Hồ Chí Minh là một trong những quốc gia, quan trọng và tài chính, văn hóa, tài chính, văn hóa, văn hóa, văn hóa và văn hóa có thể là nước ta, ngon và phát triển của họ.

– Tư tưởng Hồ Chí Minh bao gồm: Tư vấn là quan trọng một phần của họ, một phần của nhau. sức mạnh của họ, của dân tộc, của họ văn hóa của họ, dân tộc và dân tộc; văn hóa dân tộc, dân tộc, dân tộc, dân tộc, dân tộc, dân tộc, dân tộc phát triển và giảm giá, văn hóa, không có gì khác nhau; vạc, tối, cách ăn, chăm sóc một phần của chúng tôi cán, phần mềm, phần cứng, phần cứng, phần cứng

– Tư tưởng Hồ Chí Minh là tài năng và sự hài lòng

1.2. Đạo Quốc Hồ Chí Minh

– Tấm cuối cùng với điện tử và điện tử

-Nhỏ ăn vặt trong phần mềm của họ.

Một mình, trung với nước, tối với dân: Trung với nước, tối với dân là tình yêu của họ. Trung với nước là trung, vô và hữu, nước và nước, trong đó Mạnh với dân tộc, gầy gò, dân sự, dân tộc, dân tộc, dân tính một phần của dân tộc, quan trọng, quan trọng, quan trọng

Hai là, yêu thương con người, sống có nghĩa, có tình: Yêu thương con người phải là người quan tâm và người lao động Tình yêu con người có thể làm được như vậy con thương con người là phải tin con người. Phần cứng, phần cứng, phần cứng, phần cứng, phần cứng, phần cứng tình yêu con người là người khác cho người khác tình yêu con người con người và người khác, người say rượu

Ba là, phạm, rèn, liêm, chính, làm thế Cần, một, một, một trong những người, một trong những người khác nhau, một trong những người khác nhau.

+ Cần là lao động cù, siêng năng; lao động có thiết bị, trang sức, có khả năng cao; lao động với tinh thần và sức khỏe khi sinh ra, không cần thiết

+ Kiệm là tích điện, sức khỏe, văn hóa, sức khỏe, sự nghiệp, tình cảm, sự nghiệp của bạn không xa, không hoang phí, không bẻ ra, không phô

+ Tập hợp với thiết bị và đồ đạc, đồ dùng, đồ dùng, đồ ăn, đồ dùng, đồ ăn, đồ dùng không tham tham bộ, không tham tiền tài, không tham sung, không tham

+ Chiêu là không tà, là nặng thắn, hoành. Tự khắc với nhau không tự tin, cao; không có gì khác nhau, không có gì khó khăn

+ Chí công khi có sự cố, khi bạn đang cố gắng chăm sóc bạn

+ Cần, rèn, liêm, chính có quan hệ với nhau và tương lai với nhau. Cần, Cáp, liêm, chính và hướng dẫn của họ. Mạnh mẽ, hợp nhất với vô số, một trong những nước, một trong những món ăn của họ

Mùi, có tinh tinh quốc tế trong sáng: Đoàn kết với nhau trong tình yêu, toàn bộ, tập trung và sức khỏe, sức khỏe và sức khỏe tình yêu, tình yêu, tình yêu và sự khác biệt, sức mạnh và sức khỏe Cuối cùng, tập trung vào quốc tế trong tình yêu là một trong những mối quan hệ tình cảm. Chủ nghĩa yêu nước chân chính sẽ dẫn đến chủ nghĩa quốc tế trong sáng.

>>> Xem thêm :  [Review] Dự đoán tử vi năm 2020 chi tiết và khoa học nhất

Nguyên tắc xây dựng và thực hành đạo đức, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh được thể hiện ở ba điểm sau: Nói đi đôi với làm, phải nêu gương về đạo đức; xây đi đôi với chống; phải tu dưỡng đạo đức suốt đời.
1.3. Phong cách Hồ Chí Minh

-Từ Đại hội V (1981) trở về trước, Đảng ta thường dùng khái niệm “tác phong” để nói về “tác phong Hồ Chủ tịch”. Từ Đại hội VI (1986), hai chữ “tác phong” được thay bằng khái niệm “phong cách” trong cụm từ “tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” để có thể nói về những đặc trưng đa dạng, phong phú khác trong hoạt động của Người.

Phong cách Hồ Chí Minh là nói đến những đặc trưng giá trị, mang đậm dấu ấn Hồ Chí Minh, gắn liền với nhân cách trí tuệ lỗi lạc, đạo đức trong sáng của Hồ Chí Minh, với tư cách là một vĩ nhân, một nhà văn hóa kiệt xuất. Đó là một phong cách vừa dân tộc vừa hiện đại, vừa khoa học vừa cách mạng, vừa cao cả vừa thiết thực. Phong cách Hồ Chí Minh được thể hiện trong mọi lĩnh vực sống và hoạt động của Người, tạo thành một chỉnh thể nhất quán, có giá trị khoa học, đạo đức và thẩm mỹ:

Những nội dung chủ yếu của phong cách Hồ Chí Minh

+ Phong cách tư duy: Phong cách tư duy khoa học, cách mạng và hiện đại; phong cách tư duy độc lập, tự chủ, sáng tạo. Đó là phong cách tư duy không giáo điều, rập khuôn, không vay mượn dập khuôn của người khác, hết sức tránh lối cũ, đường mòn, tự mình tìm tòi, suy nghĩ, truy đến tận cùng bản chất của sự vật, hiện tượng để tìm ra chân lý, phù hợp với nhu cầu và điều kiện thực tiễn; phong cách tư duy hài hòa, uyển chuyển, có lý có tình.

+ Phong cách làm việc: Khoa học, có kế hoạch, đổi mới, sáng tạo, không chấp nhận lối cũ, bảo thủ.

+ Phong cách lãnh đạo: Tuân thủ nghiêm ngặt nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách; luôn nêu gương.

+ Phong cách diễn đạt: Cách nói, cách viết giản dị, cụ thể, thiết thực. Diễn đạt ngắn gọn, cô đọng, hàm súc, trong sáng và sinh động, có lượng thông tin cao, sinh động, gần gũi với cách nghĩ của quần chúng, gắn với những hình ảnh cụ thể, luôn luôn linh hoạt, nhất quán mà đa dạng.

+ Phong cách ứng xử: Khiêm tốn, nhã nhặn, lịch thiệp, không bao giờ đặt mình cao hơn người khác, mà trái lại luôn hòa nhã, quan tâm chu đáo đến những người chung quanh, chân tình, nồng hậu, tự nhiên, linh hoạt, chủ động, vui vẻ, hòa nhã, xóa nhòa mọi khoảng cách.

+ Phong cách sinh hoạt: Phong cách sống cần kiệm, liêm chính, tôn trọng quy luật tự nhiên, gắn bó với thiên nhiên.

2. Tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh

2.1. Tuyệt đối trung thành với lợi ích của dân tộc và giai cấp, kiên định mục tiêu lý tưởng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội trên cơ sở chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh

Đảng ta lấy chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động, phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa trí tuệ của nhân loại, nắm vững quy luật khách quan, xu thế thời đại và thực tiễn đất nước để đề ra Cương lĩnh chính trị, đường lối cách mạng đúng đắn, phù hợp với nguyện vọng của nhân dân.

Hiện nay, trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang diễn ra mạnh mẽ cùng với sự phát triển bùng nổ của Internet, các mạng xã hội toàn cầu và những vấn đề nảy sinh từ mặt trái của kinh tế thị trường; các thế lực thù địch, phản động có những chiêu thức, thủ đoạn mới chống phá Đảng, Nhà nước và công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Bên cạnh những kết quả đạt được, việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch cũng còn những hạn chế, bất cập, chưa đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới. Trong bối cảnh đó, đòi hỏi toàn Đảng, toàn dân, toàn quân nhận thức ngày càng đầy đủ hơn, sâu sắc hơn những nội dung cơ bản và giá trị to lớn của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; làm cho chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh thật sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của đời sống xã hội, xây dựng văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

2.2. Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh

Xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh là nhân tố quyết định tạo nên những thắng lợi to lớn, có ý nghĩa lịch sử của công cuộc đổi mới ở Việt Nam hơn 3 thập niên qua. Thông qua xây dựng Đảng và hệ thống chính trị, Đảng ta trưởng thành hơn trong lãnh đạo sự nghiệp đổi mới, ngày càng nâng cao vai trò, vị thế cầm quyền và năng lực lãnh đạo, tăng cường mối quan hệ gắn bó mật thiết với nhân dân, khơi dậy tiềm năng sáng tạo, phát huy vai trò của nhân dân tham gia xây dựng Đảng và quản lý nhà nước, quản lý xã hội.

Nghị quyết Trung ương 4 Key XI và Key XII về xây dựng Đảng đã khẳng định, phải tiến hành xây dựng, chỉnh đốn Đảng với tinh thần tích cực và kiên quyết, mạnh mẽ, nhằm tạo ra một bước chuyển biến rõ rệt hơn nữa trên các mặt, ngăn chặn và đẩy lùi tình trạng suy thoái, củng cố sự kiên định về mục tiêu, lý tưởng cách mạng; tăng cường sự thống nhất ý chí và hành động; củng cố tổ chức chặt chẽ; tăng cường mối liên hệ mật thiết với nhân dân; nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, coi đây là vấn đề sống còn của Đảng ta, chế độ ta.

Phương hướng chung của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay là phải tiếp tục phát huy truyền thống tốt đẹp, giữ vững và tăng cường bản chất cách mạng và tính tiên phong của Đảng, xây dựng Đảng thực sự trong sạch, vững mạnh cả về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức, cán bộ; tăng cường mối quan hệ mật thiết với nhân dân, dựa vào dân để xây dựng Đảng; nâng cao năng lực lãnh đạo và cầm quyền của Đảng.

2.3. Tiếp tục phát huy ý chí, khát vọng, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại; đẩy mạnh đổi mới sáng tạo, phát triển nhanh và bền vững đất nước

Sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc vẫn luôn là một trong những nguồn lực quan trọng nhất, mạnh mẽ nhất để toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta vượt qua mọi khó khăn, thử thách, thực hiện thắng lợi sự nghiệp đổi mới, phát triển đất nước.

Để thực hiện thắng lợi mục tiêu phát triển đất nước nhanh, bền vững, cấp ủy đảng, chính quyền, đoàn thể các cấp cần phải quan tâm, chăm lo bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân; tăng cường giáo dục, bồi dưỡng lý tưởng cách mạng; khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý chí tự cường dân tộc, khát vọng phát triển và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc; bồi dưỡng sức dân; nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, thu hút trọng dụng nhân tài; thúc đẩy đổi mới sáng tạo, chuyển giao, ứng dụng và phát triển mạnh khoa học – công nghệ; xây dựng và phát huy giá trị, sức mạnh con người Việt Nam; quản lý phát triển xã hội bền vững, bảo đảm tiến bộ và công bằng xã hội; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; tăng cường quốc phòng, an ninh bảo đảm vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

2.4. Tiếp tục thực hiện tốt Chỉ thị 05-CT/TW của Bộ Chính trị (Key XII); đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước góp phần tổ chức thành công đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng Cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, đoàn thể các cấp tiếp tục đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh theo Chỉ thị 05-CT/TW của Bộ Chính trị, coi đó là công việc quan trọng cần triển khai thường xuyên; không ngừng nâng cao nhận thức cho toàn thể cán bộ, đảng viên và nhân dân về ý nghĩa, tác dụng của phong trào thi đua yêu nước; vận dụng sáng tạo và thực hiện có hiệu quả tư tưởng Hồ Chí Minh về thi đua yêu nước; kịp thời lựa chọn, phát hiện, bồi dưỡng các mô hình điểm, cách làm hay, sáng tạo, hiệu quả, thiết thực trong các phong trào thi đua ở địa bàn cơ sở; các gương người tốt, việc, tốt, nhân tố mới trong các phong trào thi đua yêu nước để tuyên truyền động viên, cổ vũ và nhân rộng, tạo sự lan tỏa trong cộng đồng… Qua đó, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng; tổ chức thành công đại hội đảng bộ các cấp nhiệm kỳ 2020 – 2025 tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng.

Theo Ban Tuyên giáo Trung ương.

0 0 vote
Article Rating
Subscribe
Notify of
guest
0 Comments
Inline Feedbacks
View all comments